Print

Tâm sự của một người Thầy

Written by GS. TS. Pham Thi Tran Chau on .

GS TS Pham Thi Tran ChauThấm thoắt đã 20 năm, mới ngày nào cái tên “Phòng Enzym- Protein” còn là mới mẻ với mọi người còn là “con một” nay đã có khá nhiều “anh chị em”. Sau nhiều năm hoạt động, có thời phòng chúng ta được ghi nhận là dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng Enzym và các chất kìm hãm enzym. Nhờ vậy mà từ nhiều năm nay phòng chúng ta đã liên tục được nhận các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về Công nghệ Sinh học. Chúng ta cũng tự hào là đã góp phần quan trọng trong những bước khởi đầu để trường Đại học Khoa học Tự nhiên có được phòng thí nghiệm trọng điểm Nhà nước về Công nghệ Enzym-Protein.

Nhớ ngày nào, phòng chỉ có hai chị em, với trái tim tràn đầy nhiệt huyết, tất cả vì khoa học, đã lao vào công việc. Cơ sở vật chất mới chỉ có một phòng chật hẹp, trống rỗng, một ngọn đèn đỏ, một cái bàn đá dài 1,5 m đã cũ v.v... Nhưng quả thật, bấy giờ đó là một sự sẻ chia quý báu, hào phóng của các đồng nghiệp ở Trung tâm Vi sinh ứng dụng, đứng đầu là GS. TS Nguyễn Lân Dũng và GS. TS Phạm văn Ty. Sự quyết tâm và đoàn kết đã làm nên tất cả. Chẳng bao lâu sau, Phòng Enzym - Protein cũng đã có được một cơ sở tối thiểu, khiêm tốn với bàn làm việc tử tế, quạt trần, tủ, và một số dụng cụ cơ bản nhất, kể cả những thứ bấy giờ còn hiếm như máy điện di với các ống, bộ nguồn tự tạo theo mẫu của Pháp v.v… Bấy giờ, từng ấy thứ cũng là mơ ước của nhiều cán bộ Khoa sinh học. Tất cả đều từ nguồn kinh phí tự túc, sự hỗ trợ của bạn bè, người thân, sinh viên. Quả thật, thời ấy, phòng chúng ta đã quy tụ được những tấm lòng, những sự đồng cảm của nhiều người về một khát khao phải làm được gì cho xã hội, để tự vươn lên. Sinh viên tự nguyện xây bàn thí nghiệm cho phòng  “free of charge”, một việc mà hiện tại không dễ làm được. Qủa là một thời đẹp đẽ của những năm 1987-1989 đầy khó khăn, cả điều kiện sống, cũng như điều kiện làm khoa học. Dù chưa thuận lợi, nhưng mọi người đều tranh thủ thời gian để làm việc, làm việc với năng suất cao. Sự hăng say của các em đã động viên tôi rất nhiều, tiếp thêm sức mạnh để tôi luôn “bám” phòng thí nghiệm, hoàn thành tốt việc đào tạo và nghiên cứu khoa học, mặc dù bận rộn với nhiều hoạt động xã hội khác nhau. Cơm hộp buổi trưa của cô tuy đạm bạc nhưng vẫn còn hơn các em. Nhìn các em vẫn vui vẻ hồn nhiên làm việc, làm tôi thêm yêu mến và tự hào về các học trò của mình. Có lúc không khỏi thấy xót xa vì không giúp được gì nhiều cho các em. Sinh viên nghèo, cô giáo cũng chẳng có gì hơn, chỉ nhờ sự đoàn kết, lòng say mê khoa học, mà cô trò đã đồng lòng làm nên tất cả. Thật là một thời đẹp đẽ và trong sáng không thể nào quên. Hình ảnh những người học trò, những người cộng sự đắc lực yêu quý luôn đọng mãi trong tôi. Các em đã trưởng thành, công việc đa dạng, âu cũng là một sự nhìn nhận đúng đắn của bản thân, của xã hội về sở trường và sự cố gắng của mỗi người. Các em đã thích nghi được với thời cuộc để tồn tại và phát triển, cũng là điều tự nhiên. Nhưng dù làm việc gì đi nữa thì sự say sưa, quyết tâm cao, trách nhiệm cao với công việc mà mình đã lựa chọn, như các em đã từng thể hiện trước đây, cũng đã và sẽ giúp các em có đóng góp với hiệu quả cao hơn cho xã hội. Các em sẽ là những thành viên tích cực của xã hội, và sẽ được xã hội trân trọng. 

Phong Enzyme in 1994 I am at the most right

Ảnh chụp Phòng Enzyme và Protein năm 1994, từ trái sang phải: Cô Châu, Chị Hà, Anh Toàn, Chị Quyên, Chị Mai bé (only hair), anh Quang béo, và Dũng còi (myself) 

*** 

Hai mươi năm qua, hơn 60 người đã từng công tác, học tập tại phòng, mỗi người một vẻ, nhưng tất cả đã thành đạt, và phần lớn đã có cuộc sống ổn định, gia đình hạnh phúc. Đó cũng là niềm hạnh phúc lớn của tôi và mọi thành viên trong gia đình Phòng Công nghệ Enzym-Protein thân yêu của chúng ta. Điều đáng mừng là hai người đã trưởng thành từ Phòng chúng ta trong những thời kỳ đầu khó khăn đã trở thành những nòng cốt: TS Nguyễn Huỳnh Minh Quyên, đã trở về “tổ”, hiện là trưởng phòng nghiên cứu Enzym-Protein, đồng thời là Phó giám đốc TT CNSH của ĐHQGHN; Th.S Phan Thị Hà, người bạn đồng hành trong suốt 20 năm qua với tất cả những ai đã học tập, làm việc tại Phòng, nay là Trưởng Phòng Hành chính và cũng là người gần gũi với tất cả mọi người trong TT CNSH với vai trò Chủ tịch công đoàn của TTCNSH..

{styleboxop}Thành công của Phòng Enzym-Protein trong những năm qua đã cho tôi những bài học lớn, đó là việc kết hợp tốt giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học; là kết quả của sự đồng lòng nhất trí giữa các thế hệ vì sự tồn tại và phát triển của phòng. Một môi trường làm việc tốt, với một số cán bộ vừa phải, có cơ cấu trình độ cán bộ thích hợp, có cán bộ chủ chốt, với sự phân công và cơ chế hoạt động thích hợp sẽ có được những kết quả NCKH và đào tạo với hiệu quả cao. Ngoài ra, nếu có được thêm các cộng tác viên ngắn hạn như các sinh viên, học viên cao học, NCS thì sẽ càng tốt hơn. Việc tham gia vào mọi hoạt động của đề tài giúp họ hiểu biết nhiều hơn về các hoạt động trong nghiên cứu khoa học trước khi ra trường. Được như vậy, khi ra trường sẽ có thể đóng góp tích cực hơn trong nghiên cứu khoa học.{/styleboxop}

Chúng ta cũng vui mừng vì đã góp phần đào tạo được một đội ngũ nhiều người chuyên nghiên cứu Enzym, đặc biệt là các Proteinaz, các chất ức chế proteinaz cho nước nhà. Nhiều người đã trưởng thành, vẫn giữ được niềm đam mê, say sưa nghiên cứu khoa học, có nhiều đóng góp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường, các Viện, hoặc đã đạt được nhiều kết quả nghiên cứu khoa học ở nước ngoài. Mặc dù được đào tạo trong điều kiện khó khăn, cơ sở vật chất khiêm tốn, nhưng các sinh viên, cán bộ được đào tạo tại đây cũng đã nhanh chóng hội nhập và thành công, khi có dịp làm việc tại phòng thí nghiệm hiện đại của các cơ sở nghiên cứu khoa học lớn ở các nước phát triển. Ngoài sự cố gắng và năng lực của bản thân mỗi người, chúng ta cũng có thể tự hào đã khởi đầu được cho họ tác phong làm khoa học, tinh thần làm việc tập thể, sự say sưa, trách nhiệm và hết lòng vì công việc. Những đức tính tốt đẹp này, không dễ có được, không phải  chỉ do một người, mà chính môi trường hăng say làm việc của cả phòng đã có tác động lớn, lan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Bắt đầu công việc trong hoàn cảnh thiếu thốn, là một thiệt thòi lớn cho các thế hệ trẻ trước đây. Tuy nhiên, hoàn cảnh ấy cũng làm cho người ta biết quý trọng hơn những gì có được ngày hôm nay và ít phóng tay lãng phí. Nhớ ngày nào, chưa có máy thu tự động, lại phải chuẩn bị lượng lớn chế phẩm, mọi người thay nhau trực đêm để chuyển ống hứng dịch qua cột, dùng tay thay máy khuấy từ khi mất điện trong đêm khuya vắng lặng …và chắc còn nhiều điều khó khăn khác mà các em đã không nói hết với cô?  Tôi càng quý mến các em hơn vì những sự cố gắng này không phải chỉ vì sự thôi thúc để hoàn thành luận án của bản thân, mà còn để thực hiện đề tài nghiên cứu của phòng.

Sự say sưa, nhiệt tình và trách nhiệm cao với công việc của các thế hệ học trò và các cộng sự là những kỷ niệm thật đẹp còn đọng mãi trong tôi, nhắc nhở tôi về trách nhiệm đào tạo các thế hệ cán bộ khoa học kế cận. Tôi luôn tâm niệm phải cố gắng tạo cơ hội để các em sớm tiếp xúc với môi trường, cán bộ khoa học nước ngoài để phát triển. Một số em cũng đã tận dụng được các cơ hội này với hiệu quả cao.

Những đức tính tốt đẹp, những tố chất của người làm khoa học mà các thế hệ học trò, các cộng tác viên của Phòng Công nghệ Enzim-Protein có được, đã thể hiện tiềm năng của các thế hệ thanh niên Việt nam đã được phát huy. Tôi đã thầm mừng cho sự phát triển khoa học nước nhà. Các em hãy cố gắng duy trì để không bị  phai nhạt theo thời gian.

Khoa học thật bao la và luôn hấp dẫn, bao nhiêu điều mới mẻ, phát triển nhanh chóng, mỗi người chắc chỉ có thể giải quyết được một vấn đề. Hãy lựa chọn cẩn thận, và kiên trì nghiên cứu theo một hướng đang phát triển, có nhiều tiềm năng ứng dụng, và chúng ta đang có những lợi thế, sớm hay muộn, tập thể khoa học ấy sẽ được ghi nhận trong cộng đồng. Đó cũng là những bước khởi đầu để xây dựng được trường phái khoa học mạnh. Bài học này không mới, tôi cũng đã thu nhận được trong những năm làm việc ở các phòng thí nghiệm nước ngoài, nhưng càng được thể nghiệm rõ khi mình có điều kiện thực thi. Mong các em có được những điều kiện thuận lợi để xây dựng được nhiều trường phái khoa học mạnh cho nước nhà.  Những năm tháng làm việc với các em qua nhiều thế hệ, có được một tập thể như ngày nào quả là một điều không dễ. Những kỷ niệm về những ngày làm việc với các em, mỗi người một vẻ, nhưng phần lớn đều có năng lực, có thể đi xa trên con đường khoa học, vì vậy có lúc phải nghiêm khắc trong công việc với kỳ vọng đào tạo các em thành người làm khoa học, dễ thích ứng với các điều kiện làm việc ở nước ngoài, mặc dù biết rằng nhất thời có thể ảnh hưởng đến tình cảm thầy trò.

Thực tình, trong lòng tôi chỉ còn lại toàn những kỷ niệm thật đẹp, những tâm hồn trong trắng, ham hiểu biết, nhiệt tình và đầy tâm huyết của các em. Ngay cả những điều buồn cười, ngây thơ của một số em trong công việc cũng thật khó phai mờ trong ký ức tôi về các em. Thời gian sẽ ủng hộ các em, mong sẽ nhận được nhiều tin vui của các em trong cuộc sống gia đình và sự nghiệp.                                                            

Hà nội 26 tháng 10, năm 2006
Cô Trân Châu

[Bài viết đã được biên soạn lại cho ngắn, những nội dung đề cập đến từng học sinh cũ của cô đã được lược bỏ]