Print

Vietnam Agrobiotechnology from 2005 to 2015

Bài viết này trích từ tài liệu chỉ đạo và định hướng phát triển Công nghệ Sinh học Nông nghiệp tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2015. Đây là tài liệu chỉ đạo và hướng dẫn của Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Bản gốc của tài liệu có thể tìm được ở trang web www.vnast.gov.vn.

1. Quan điểm chỉ đạo

CNSH là công nghệ đòi hỏi đầu tư cao cả về thời gian và kinh phí. Theo các chuyên gia lăn lộn với cả quá trình phát triển giống cây trồng biến đổi gen ở Mỹ trên dưới ba mươi năm qua đều chung nhận xét rằng, phải mất trên dưới 10 năm thì một sản phẩm biến đổi gen mới hoàn tất quá trình tích tụ điều kiện cho mục đích cuối cùng là thương mại hoá. Cũng trong quãng thời gian đó, số tiền phải chi để thiết lập các điều kiện dao động trong khoảng 50-300 triệu USD, tuỳ loại gen, trong đó riêng chi phí quản lý đã ngốn mất 4-12 triệu USD. Theo đó, một công ty CNSH phải có đủ 3 yếu tố để dẫn đến thành công, đó là: i) Phải có tính trạng mong muốn; ii) Các giống cần tập trung, tránh dàn trải; và iii) Phải có chế độ bảo vệ bản quyền sáng chế công nghệ cực kỳ chặt chẽ. Do vậy, để phát triển CNSH, chúng ta cần lựa chọn đối tượng nghiên cứu ứng dụng phù hợp với trình độ công nghệ của Việt Nam cũng như chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Cần tập trung vào:

1/ Thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng CNSH truyền thống và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển, thương mại hoá các sản phẩm CNSH. Tạo ra cơ chế hấp dẫn tư nhân tham gia thông qua tuyên truyền về hiệu quả của CNSH trong giải quyết những vấn đề then chốt đối với nông dân nghèo. Như vậy, chúng ta phải có những điều chỉnh có tính chất định hướng để cải tiến mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân một cách tốt nhất.

2/ Tập trung đầu tư có trọng tâm trọng điểm, nghiên cứu ứng dụng nhập nội CNSH hiện đại đặc biệt là công nghệ gen, xây dựng vài phòng thí nghiệm CNSH hiện đại, nghiên cứu ứng dụng CNSH hiện đại vào phát triển sản xuất một số cây, con là lợi thế so sánh của Việt Nam. 3/ Tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học CNSH hiện đại đủ sức tiếp cận với CNSH khu vực và thế giới.

2. Định hướng phát triển

2.1. Mục tiêu chung:

CNSH phải phục vụ đắc lực cho sự phát triển của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững; có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao phấn đấu trong vòng 10-20 năm nữa làm chủ được CNSH hiện đại trong những lĩnh vực mũi nhọn; xây dựng được một hệ thống quy chế và luật lệ về an toàn sinh học, sở hữu trí tuệ.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Phát triển CNSH nông nghiệp trong những năm tới cần giải quyết các mục tiêu sau:

1/ Đáp ứng nhu cầu công tác chọn tạo giống, cải thiện giống và nhân nhanh giống cây trồng nông, lâm nghiệp, vật nuôi có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với hoàn cảnh bất lợi cao.

2/ Tập trung đầu tư nghiên cứu có trọng tâm, trọng điểm công nghệ gen, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hoá một số sản phẩm công nghệ gen phục vụ chiến lược phát triển hàng nông sản có lợi thế so sánh.

3/ Ứng dụng CNSH phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ cây trồng, vật nuôi; bảo quản nông-lâm sản sau thu hoạch.

4/ Ứng dụng CNSH phục vụ công tác chế biến nông-lâm sản

5/ CNSH góp phần bảo vệ môi trường nói chung, môi trường nông nghiệp và nông thôn nói riêng.

Một số chương trình Công nghệ Sinh học Nông nghiệp trong tời gian qua

1- Chương trình 52D (1986-1990): “Nghiên cứu sinh học phục vụ nông nghiệp” với 25 đề tài về công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào và công nghệ chế biến.

2- Chương trình KC-08 (1991-1995): “Chương trình Công nghệ Sinh học” với 15 đề tài về ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, chế biến thực phẩm, chế phẩm y sinh và công nghệ xử lý môi trường.

3- Chương trình KHCN-02 (1996-2000): “Công nghệ Sinh học phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bền vững, bảo vệ môi trường và sức khoẻ” với 29 đề tài về ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất vacxin, phân bón và thuốc trừ sâu sinh học, bảo quản và chế biến nông, lâm và thuỷ sản.

4- Chương trình KC-04 (2001-2005): “Nghiên cứu khoa học và phát triển CNSH” với 30 đề tài/dự án về ứng dụng sinh học phân tử trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, chẩn đoán bệnh, sản xuất vacxin và công nghệ xử lý môi trường.

5- Năm 2000, Chương trình Kỹ thuật-Kinh tế về CNSH do các doanh nghiệp chủ trì được tổ chức nhằm đưa nhanh những kết quả nghiên cứu về CNSH vào sản xuất công nghiệp. Hiện đã có 16 dự án được xây dựng và 6 dự án đang thực hiện.

 

Bản gốc đầy đủ có thể download tại đây